Chủ đề "Chăm sóc tiếng mẹ đẻ"

Sưu tầm: Ánh Sao Đêm

TIẾT THỨ II
NỘI DUNG BÀI MÔ TẢ
NGUYÊN TẮC THỨ NHẤT: TẢ LÀ VẼ
91. Văn tả hay giúp người đọc hình dung ra được thực tế.
Dù tả người, vật hay cảnh, dù tả những cái hữu hình hay thiêng liêng, ta hãy tưởng chừng như ta phải tiếp chuyện một người thông minh nhưng dốt nát. Họ chưa từng biết những cái mà ta tả, nhưng rất có thể tưởng tượng ra được nếu ta khéo làm cho họ thấy.
Muốn thế, chính ta đã phải quan sát cái mà ta định tả, quan sát một cách tỉ mỉ và tế nhị. Với con mắt tinh, Xuân Diệu đã “chụp” được những run rẩy của đôi chim non nớt rung rinh trên cành cây thu gầy:
“Cành biết run run chân ý nhi”
NGUYÊN TẮC THỨ HAI: ĐỦ NHƯNG GỌN
92. Bài tả phải đủ nhưng gọn gàng.
Muốn cho bài tả khỏi thiếu sót, cần ghi nhận tất cả các chi tiết, từ cảm giác đến cảm tưởng mà thực tế phản chiếu vào trí não tâm hồn ta. Để tránh sự mơ hồ, ta hãy phân tích.
91.1. Các cảm giác theo thứ tự:
- Hình dung
- Vận chuyển
- Màu sắc
- tính chất
- Hương
- Vị
91.2. Các nhận xét theo phương diện:
- Diện mạo
- Phục sức
- Điệu bộ
- Đức tốt
- Tật hư
- Thói quen
- Đặc tính
Nhưng tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, lắm học sinh vì muốn đầy đủ mà kéo bài tả thành dài dòng. Họ không biết bỏ bớt các chi tiết rườm rà và đem các chi tiết tương tự hoặc trái ngược đối chiếu với nhau.
Nước trong xanh lơ lững con cá vàng.
Cây ngô cành bích con chim phượng hoàng nó đậu cao.
Anh tiếc cho em phận gái má đào
Thâm đồng bạc trắng gánh mình vào chú tây đen.
Sợi tơ hồng ai khéo xe duyên?
Treo tranh tố nữ đứng bên anh tượng đồng
Chị em ơi, ba bảy đường chồng!
Trong bài hát nói trên, Tản Đà đã gạt bỏ tất cả các chi tiếc vô ích, chỉ chọn lấy các ý tưởng và từ ngữ rực rỡ, nhiều màu sắc. Thi sĩ khéo ví von người con gái lấy được chồng ưa duyên đẹp lứa như con cá vàng vùng vẫy nơi bể nước xanh, như con chim phượng hoàng vắt vẻo trên cành cây ngô đồng cao chót vót. Thi sĩ lại khéo chơi chữ để làm nổi bật cái mâu thuẫn ở đời: Má đào bạc trắng tây đen!
Phương pháp đối chiếu này cốt ở chỗ so sánh vật phải tả với các vật tương tự hay là so sách những phương diện khác nhau của cùng một sự vật.
Image result for hình cây viết
NGUYÊN TẮC THỨ BA: TẢ CHÂN VÀ LÝ TƯỞNG HÓA
93. Bài tả phải cụ thể vì dựa vào thực tế, nhưng cũng phải đặc sắc vì được lý tưởng hóa.
Như đã nói, ta cần phải quan sát thiên nhiên, từ nội giới tâm linh đến nội giới cảnh vật, mới có được một ngọn bút mô tả có sức khơi gợi. Có bắt nguồn trong thực tế, có thai nghén trong kinh nghiệm, văn tả của ta mới cụ thể và linh hoạt. Những nhà văn tả chân đạt tới mục đích đó, phải kể đến các tác giả phóng sự Tam Lang, Trọng Lang…
Nhưng có người quá vụ cụ thể hữu hình đến nỗi bài tả thành một bài vạn vật học hay là một đơn thuốc. Ông Đoàn Văn Cừ, chẳng hạn, tả vật hữu hình một cách rất tỉ mỉ, rõ ràng, đượm màu sắc và đầy linh động, nhưng nhiều đoạn tả của ông như xác không hồn. Bài tả hay, sau những đường vẽ và màu tô…, phải phản phất ít nhiều hương vị linh thiêng.
Muốn cho bài tả có hồn, ta phải hướng nó về một mục đích. Chủ đích ấy có khi là một lý tưởng mà ta muốn tán dương hay bài bác, có khi là một cảm tình vui, buồn hay kỳ thú, mênh mang. Chẳng hạn như bài thơ Tiếng thu của Lưu Trọng Lư:
Em nghe chăng mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em nghe chăng rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ?

Em nghe chăng rừng thu,
Lá thu kêu xào xạc,
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô.
Bài này ý nhị vì tác giả đã phổ vào đó một hương vị sầu tư mơ hồ và huyền bí. Bài này hay hơn nữa vì nó mang dấu cá tính của người viết. Lối quan sát loáng thoáng và cách xúc cảm tinh vi của thi sĩ, tất cả những phương pháp vận dụng ngũ quan và tâm trí riêng biệt của một khách giang hồ lãng mạn và lơ đễnh!
Tắt một lời, tả chân không đủ, còn phải lý tưởng hóa nữa.
Image result for hình cây viết
NGUYÊN TẮC THỨ TƯ: BỐ CỤC CHẶT CHẼ
94. Tùy theo đối tượng của bài và tùy theo cảm hứng của người viết, bài viết sẽ được bố cục theo một khung khổ thích hợp.
Dàn bài phải tương đương với thứ tự và quan hệ của các điều quan sát. Không thể phác họa một khung khổ nhất định cho tất cả mọi thứ và mọi bài văn tả được.
Đại lược ta có thể dựa vào mấy khung bài kiểu mẫu sau đây.
A.    Riêng cho cảnh vật bất động
MỞ: Nhìn bao quát cả bức ảnh
THÂN: Xếp đặt các chi tiết
(theo thứ tự không gian: trên dưới trong ngoài; tả hữu; gần xa)
KẾT: Cô đọng lại ý tưởng hay cảm tình mà bức ảnh ấy gợi ra và đã man mác trong toàn thể thân bài.
B.     Riêng cho các sự việc
MỞ: Vắn tắt dàn cảnh sân khấu trên đó sự việc sẽ xảy ra.
THÂN: Xếp đặt các việc (theo thứ tự thời gian: trước, sau; tương lai, quá khứ; điềm báo, kết cục; nguyên nhân, hậu quả).
KẾT: Đúc kết lại chủ đích của tác giả: chân lý tiềm tàng trong các biến chuyển thực tế.
C.    Riêng các phong cảnh động hay tĩnh nhưng bao la.
MỞ: Nêu tổng quát và phát họa trường hợp quan sát
THÂN: Xếp đặt các phần đoạn (thứ tự giá trị: càng đi càng quan trọng hay ngược lại, tùy theo hậu quả mà ta muốn thực hiện).
KẾT: Giải thích việc đã xảy ra hay gợi lại cảm tưởng do cảnh tượng xui nên.
D.    Tả hình dung một người hay một con vật.
MỞ: Trường hợp đã gặp một người hay vật mình tả.
THÂN:
1.      Hình dáng toàn thể
2.      Thân hình từ đầu đến chân
3.      Vận động, dáng điệu, cử chỉ, ngôn ngữ.
4.      Cách phục sực
5.      Các đặc điểm
KẾT: Thiện cảm hay ác cảm mà người ấy hoặc vật ấy gây ra ở chung quanh.
E.     Tả tính nết một người hay một con vật.
MỞ: Trường hợp khiến mình chú ý đến người hay vật ấy.
THÂN:
1.      Tính nết chung
2.      Đặc điểm
3.      Ngôn ngữ và hành vi bộc lộ tính tình tư tưởng của người hay vật ấy
4.      Một vài gian đoạn
KẾT: Hình dung diện mạo phù hợp hay là mâu thuẩn với tính tình tư tưởng của người hay vật ấy.
F.     Tả toàn thể nhân vật.

MỞ: Dịp đã khiến mình lưu ý đến nhân vật ấy, hay là hoàn cảnh trong đó nhân vật ấy sống.
THÂN:
1.      Tên, tuổi, tầm vóc, diện mạo, dáng điệu, hành vi và cử chỉ.
2.      Ngôn ngữ, thói quen, giáo dục, tư tưởng, tính tình.
3.      Ít nhiều cái rởm, một vài cá tính hay dăm ba giai thoại kỳ thú.
KẾT: Một chủ trương, một tính hạnh hay là một nết xấu tiêu biểu mà nhân vật ấy có thể coi như là hiện thân.

Sưu tầm: Ánh Sao Đêm
PHẦN THỨ BA
CÁC LOẠI VĂN

ĐOẠN THỨ II
VĂN MÔ TẢ

TIẾT THỨ NHẤT
NÓI CHUNG VỀ VĂN MÔ TẢ
87. Văn mô tả cần thiết và quan trọng. Muốn kể cho ai những điều mình đã thấy, đã làm hay đã cảm nghĩ, ta đều phải mô tả.
Văn kể chuyện một phần gồm bởi những đoạn tả liên tục. Ngay đến văn luận thuyết hay thư từ cũng phải chen vào rất nhiều đoạn miêu tả.
Vì thế, có thể nói rằng tả là cội nguồn của nghệ thuật viết văn. Chính cũng vì thế mà phải học văn tả trước hết.
88. Mục đích và tính chất văn mô tả.
Văn mô tả nhằm mục đích khiến cho người đọc tưởng tượng ra những điều mà ta nói đến, như khi họ được xem tận mắt bắt tận tay.
Nói kiểu khác, tả là vẽ bằng ngôn từ những cái mà họa sĩ phô diễn bằng nét và màu. Nghệ thuật mô tả có khi còn thần hiệu hơn cả nghề hội họa nữa, là vì nó thu nhập được và trình bày nổi cả đến tiếng động, vận chuyển hương vị và nhất là tư tưởng cảm tình thầm kín thiêng liêng…
89. Phân loại mô tả. Tùy theo đối tượng của nó, người ta chia văn tả làm nhiều thứ: tả cảnh, tả vật, tả người, tả sự việc…
Tất cả các thứ văn tả đều phải theo ít nhiều định luật chung. Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày những nguyên tắc căn bản của việc mô tả nghiên cứu dưới hai phương diện nội dung và hình thức.

Những ví dụ và bài mẫu kèm theo sẽ giúp học sinh tự tìm ra các quy tắc riêng cho mỗi thứ văn tả, những quy tắc mà chúng tôi không muốn khảo sát chi li để tránh sự dài dòng.
90. BÀI MẪU  
PHÚT LÂM CHUNG
Image result for hình lúc lâm chung
Phần mở
“Không được, Em nghĩ như vậy thì lầm to. Khi thầy lâm chung, thầy trối trăn những gì em còn nhớ không?”
Câu hỏi của chị như gợi sự đau đớn ở trong lòng Huy, như vẽ ra trước mắt Huy một bức tranh bi thảm.
Phần thân

I)  Hình dung cụ Tú Lãm. Và quang cảnh gian phòng hấp hối
Hồi đó về cuối thu. Cụ Tú Lãm nằm trên giường bệnh, người gầy xọp chỉ còn nắm xương da bọc. Nhất là bộ mặt hốc hác, mắt sâu hoắc, má lõm hẳn xuống, chẳng khác gì một cái đầu lâu.
Đêm khuya, gió lạnh vù vù thổi qua khe cửa bức màn. Ngọn đèn dầu hỏa chiếu sáng rung rinh lờ mờ vào những câu đối sơn đen, sơn đỏ treo ở cột, ở tường. Sau bức màn the trắng, bài vị bà Tú đặt trên cái ngai sơn son thiếp vàng. Trên bàn thờ bộ thất sự bằng đồng trông ẩn lộ như trong tấm hình chụp không được rõ.
II)  Thái độ của Mai và Huy
Cạnh chiếc hỏa lò, than xoan đỏ ối, lách tách nổ liên phanh, Mai quỳ bên giường, hai tay nắm bàn tay khô khan của cha già, như cố giữ người ốm lại không cho rời sang thế giới bên kia. Còn Huy thì ngồi ở cái ghế gỗ bưng mặt khóc, thỉnh thoảng lại gọi:
-         Chị ơi, thầy có việc gì không, chị?
Mai cũng nức nở khóc không trả lời.
III)   Cụ Tú trối trăn và tắt thở
Cụ Tú hơi thở chỉ còn thoi thóp, dùng hết sức thừa nắm chặt tay con.
Mai biết rằng cụ muốn dặn một lời cuối cùng, liền ghé gần lại hỏi:
-         Thưa thầy, thầy dạy con điều gì?
Huy cũng làm theo chị, đứng dậy cúi đầu gần sát mặt người từ trần để nhận những lời giáo huấn tối hậu. Cụ Tú động môi thì thầm:
-       Lẽ tất nhiên, ai cũng phải chết. Các con không nên buồn. lúc nào cũng phải vui thì mới đủ can đảm, đủ nghị lực mà sống ở đời. Hai con nên theo gương Thầy. Thầy vui đến giờ cuối cùng. Thầy hy vọng rằng thế nào các con cũng làm vẻ vang cho thầy, cho linh hồn thầy ở nơi chín suối. Thầy hy vọng rằng thế nào em Huy cũng học thành tài và trở nên người hữu dụng cho xã hội. Thầy mất đi chẳng còn của cải gì để lại cho hai con. Thầy chỉ có ba gia bảo này ông cha để lại cho thầy, nay thầy lại truyền cho các con mà thôi. Là giữ lòng vui, giữ linh hồn trong sạch, và đem hết nghị lực ra làm việc.
Sức cụ Tú chỉ còn đến thế. Nói hết mấy câu tâm phúc, cụ thiêm thiếp dần dần.
Bên ngoài gió vẫn thổi vù vù hột mưa lốp đốp rơi trên mái ngói. Văng vẳng ở xóm xa tiếng chó sủa đêm…
Kết thúc
Trong khoảng mấy giây đồng hồ, cái mẫu đời dĩ vãng chạy qua trí nhớ Huy như bức tranh in thoáng trên tấm kính ảnh.
                                                                                  KHÁI HƯNG (Nửa chừng xuân)
Đoạn văn trích Nửa chừng xuân vừa đọc qua khiến ta tưởng tượng ra một sự việc thân ái, nghiêm trọng và não nùng.
Căn cứ vào những đoạn miêu tả mẫu do những ngòi bút tài tình, ta có thể rút ra ít nhiều nguyên tắc cốt yếu cho lối văn này.

Xin các bạn chờ đọc
TIẾT THỨ II
NỘI DUNG BÀI MÔ TẢ

Sưu tầm. Ánh Sao Đêm

PHẦN THỨ BA
CÁC LOẠI VĂN

ĐOẠN THỨ I
KHÁI QUÁT VỀ CÁC THỂ VĂN VÀ LOẠI VĂN

TIẾT THỨ HAI
CÁC LOẠI VĂN

81.Phân biệt văn xuôi và văn vần, đó là khởi điểm các nhà nghiên cứu Âu Mỹ hiện nay căn cứ vào để chia các loại văn.
Theo họ, thuộc về thể văn vần có hai loại:
Anh hùng ca,
Kịch (từ bi kịch, hài kịch cổ điển Hy Lạp cho tới phim ảnh và kịch truyền thanh của chúng ta ngày nay).
Thi ca giáo huấn (nhất là ca dao và ngụ ngôn)
Thi ca trử tình (lãng mạn cũng như trào phúng…)
Thể văn xuôi gồm có hai loại:
Văn xuôi giáo huấn (nhất là các lối nghị luận, phê bình và báo chí)
Thư từ giấy má,
Văn diễn thuyết
Văn lịch sử
Văn tiểu thuyết.
82…
83. Với mục đích thiết thực, trong phần II của cuốn Nghệ Thuật Viết Văn này, chúng tôi chỉ xin trình bày ít nhiều nguyên tắc cốt yếu có thể giúp học sinh làm các bài văn thường gặp trong bậc trung học, tức là các loại:
Văn mô tả,
Văn kể chuyện,
Văn luận thuyết,
Văn phê bình,
Văn thư từ,
Trước khi học về mỗi loại văn kể trên, có lẽ cần phải đính chính một hai hiểu lầm thường gặp về văn vần và văn xuôi đã.

TIẾT THỨ BA
ĐÍNH CHÍNH MẤY HIỂU LẦM
VỀ CÁC THỂ VĂN

84. cổ Kim Đông Tây đều công nhận văn chương chia làm hai thể chính: Văn xuôi và văn vần.
Nhưng cần phải nhắc lại cho các học sinh rằng văn vần chưa hẳn đã là thơ. Văn vần của những người “thợ thơ” tuy cũng có đối, có niêm luật, tiết điệu mà không thành thơ, vì thiếu ý thơ và hồn thơ!
Trái lại nhiều nhà văn xuôi đã viết nên những án văn chương chứa chan thi vị như Cicero trong văn học La Mã, Chateaubriand hoặc Bosuet trong văn học Pháp hay Thạch Lam và Thanh Tịnh trong văn học Việt Nam.
85. Một điều thứ hai nên nhận xét là đặc tính của văn vần có lễ cốt ở tiết điệu hơn là ở âm vận. Thực tế, trong văn học tây phương ta thấy có lối văn không vần…

86. trong khi học về nghệ thuật viết văn cũng như trong khi tập viết văn, học sinh đừng nên vội thiên hẳn về một thể văn vần hay văn xuôi. Tuy nhiên, ta có thể nói được rằng: muốn học được nhiều kỹ thuật tài tình, muốn thấm nhuần nhiều ảnh hưởng về nghệ thuật viết văn, cần chú ý đến thi ca nhiều hơn. Là vì, các tác phẩm thi ca dồi dào súc tích hơn. Đồng thời, muốn luyện tập ngòi bút cho mền dẻo, cứng cáp, muốn mài dũa tinh thần cho sáng suốt phân minh không gì bằng tập viếc văn xuôi: không bị gò bó trong những luật lệ về âm thanh và tiết điệu, ta có thể chú ý nhiều hơn và khoa học hơn vào việc bố cục và phô diễn. 

Sưu tầm. Ánh Sao Đêm

Các bạn thân mến, trong tình huynh đệ ngôi nhà Tiếng Việt tôi xin giới thiệu với các bạn NGHỆ THUẬT VIẾT VĂN của Phạm Việt Tuyền để các bạn tham khảo. Quyển sách này có thể bạn đã biết nhưng giờ bạn đọc lại lần nữa tôi nghĩ chẳng thừa.

PHẦN THỨ BA
CÁC LOẠI VĂN

ĐOẠN THỨ I
KHÁI QUÁT VỀ CÁC THỂ VĂN VÀ LOẠI VĂN

TIẾT THỨ NHẤT
PHÂN BIỆT CÁC THỂ VĂN
78. Xét về phương diện mỹ thuật, văn chương chia làm 2 thể chính.
Một thể mặc hình thức thông thường, diễn tả trực tiếp các ý tưởng và cảm tình. Đó là văn từ dùng để trao đổi hàng ngày hoặc để truyền tin tức, phổ biến tư tưởng, chẳng hạn văn từ của nhà hùng biện, triết lý và bác học. Thể văn ấy gọi là văn xuôi (còn gọi là tản văn).
79. Đối với văn xuôi có văn vần (còn gọi là vận văn). Thể văn này tự khép mình vào những thể thức riêng về tiết điệu và âm thanh. Dùng để ngâm vịnh, văn vần vượt lên trên ngôn ngữ của quần chúng. Nó là tiếng nói dành riêng cho một lớp người biết cảm nghĩ khác người và diễn tả bóng bảy: các thi sĩ (kể cả các thi sĩ vô danh).
Văn vần là tiếng nói của thi sĩ, những con người sáng tạo… Văn xuôi là tiếng nói của nhà bác học. Đối tượng của thơ là lý tưởng; đối tượng của văn xuôi là thực tế.
80. Căn cứ vào đối tượng, phương pháp và tính chất của chúng, ta có thể định nghĩa hai thể văn nói trên như sau:
Văn xuôi là tiếng nói của trí tuệ, cốt phô diễn điều hay nó đã quan sát được, bằng diễn dịch hay quy nạp, nhờ sức giúp đỡ của giác quan và tưởng tượng dưới sự kiểm soát của lý trí. Nó phóng túng tự do và ngay thẳng trực tiếp như ngôn ngữ thông thường.

Còn thờ là tiếng nói của tưởng tượng và tình cảm, cốt biểu dương cái đẹp. Tưởng tượng và tình cảm cùng nhau sáng tạo với trợ lực của trí tuệ. Là văn vần, nó gò bó trong các quy tắc âm thanh và tiết điệu, nhưng lại rất tự do về cảm hứng.  
(Còn tiếp)

Ban Điều hành chương trình luyện văn Mục Đồng
Bạn hãy thử hình dung thế này xem nhé!
Trên mọi miền đất nước và cả ở hải ngoại, có rất nhiều bạn trẻ đang tha thiết muốn trau dồi tiếng Việt nhưng thiếu điều kiện. Cùng lúc có những Thầy Cô  rất yêu quý những bạn trẻ như thế và mong muốn giúp đỡ nhưng không biết các bạn ấy ở đâu.
Góc “Chăm sóc tiếng mẹ đẻ” của Tapsanmụcdong.net xin được làm cầu nối để thầy trò gặp nhau trong chương trình trau dồi tiếng Việt.
Trong bước đầu, chương trình sẽ giúp bạn trẻ khắp nơi luyện tiếng Việt cách giản dị qua việc theo dõi những bài sửa.
Quý Thầy Cô nào quan tâm tới chương trình, muốn tham gia giúp các bạn trẻ, xin mời gửi thông tin cá nhân (Họ và tên, năm sinh, địa chỉ hiện nay, email và điên thoại) về cho Ban Điều hành chương trình, qua email: huongcononqn@gmail.com
Sự đóng góp giản dị nhất của quý Thầy Cô là gửi về Ban điều hành file PDF những bài tập mà chính quý Thầy Cô đã sửa. Mỗi Thầy Cô sẽ nhận được một mã số để ghi thứ tự các bài tập mình gửi về Ban Điều hành. Các bài này chỉ được đánh mã số, không nêu danh tính tác giả.
Ban Điều hành sẽ lần lượt đưa các bài sửa lên mạng. Bài nào cần sửa thêm, sẽ trao đổi với Thầy Cô hữu trách trước khi đưa lên mạng.
Ban Điều hành ước mong trong các Thầy Cô của chương trình sẽ có những vị đứng ra đảm nhận một câu lạc bộ luyện văn cho những bạn trẻ ở cùng một khu vực, sinh hoạt qua FB và khi thuận tiện có thể tổ chức cho các thành viên câu lạc bộ cùng gặp gỡ.Những thầy cô đảm trách câu lạc bộ sẽ trực tiếp nhận được các bài sửa của các vị khác, do Ban Điều hanh chuyển qua email, để tiện dụng cho sinh hoạt Câu lạc bộ.
Mọi độc giả đều có thể tự học qua các bài sửa đăng trên mạng. Riêng những bạn có tham gia một Câu lạc bộ sẽ được Thầy Cô phụ trách chăm sóc chu đáo hơn. Bạn nào muốn tham gia một Câu lạc bộ luyện văn, để được chăm sóc sửa bài riêng, xin gửi thông tin cá nhân về Ban Điều hành (Họ và tên, năm sinh, địa chỉ hiện nay, email và điên thoại) qua email: huongcononqn@gmail.com. Ban Điều hành sẽ giới thiệu với câu lạc bộ gần nhất.
Rất mong nhận được sự tham gia của quý Thầy Cô đang giảng dạy môn văn và cũng rất mong nhận được sự góp ý của tất cả các độc giả.

Chân thành cám ơn,

Chuyển ngữ: Thắng Chu
Bài viết được tổng hợp từ: songdaoonline và tienve

(Lời nói riêng: Đây thật sư là bài viết rất có ích trong việc viết truyện ngắn. Những ai viết truyện mà không đọc bàinày thì quả là điều đáng tiếc vô cùng lớn).
1. Đọc thật nhiều truyện ngắn. Không gì giúp bạn ‘học’ cách viết truyện ngắn hay cho bằng đọc nhiều truyện ngắn hay. Ghi chú văn phong và cách họ tận dụng dùng ít chữ. Hãy chọn những tác giả bạn thích, và cũng nên chọn một số ‘cổ điển.’ Chú ý cách tác giả phát triển nhân vật, viết đối thoại, và cấu tạo cốt truyện.
2. Thu thập ý cho câu truyện. Ngẫu hứng có thể bùng lên bất cứ lúc nào, vì thế mang sổ tay theo bạn bất cứ nơi nào bạn đi để có thể viết những ý truyện chợt đến.
3. Chọn một ý và bắt đầu nền tảng cho truyện ngắn. Ít nhất, một câu truyện nên có phần khai triển (câu chuyện dẫn đến điểm cao nhất), diễn tiến tăng dần (các biến cố dẫn đến điểm ngoặc), một tuyệt đỉnh (điểm xoay trong truyện mang đến xung đột giữa những nhân vật hoặc trong bản thân nhân vật), diễn tiến lắng dần (truyện của bạn bắt đầu kết thúc), và một giải pháp (một kết thúc thoả mãn cho câu chuyện qua đó xung đột chính được giải quyết - hoặc không được). Hãy di chuyển tới lui từ ý tưởng ban đầu (nó có thể là hoặc không là phần đầu câu chuyện), và hỏi “Điều gì xảy ra kế tiếp?” hoặc “Điều gì trước điều này?”
4. Phải biết các nhân vật của bạn. Để câu truyện đáng tin, các nhân vật phải đáng tin, và những hành động của họ nên nói rõ họ là ai. Nói cách khác, bạn nên hiểu rõ các nhân vật của bạn, từ những động cơ chính của họ là gì cho đến thức ăn khoái khẩu của họ. Bạn không bỏ tất cả những chi tiết này vào truyện, nhưng bạn càng biết, các nhân vật càng trở nên sống động, cả cho bạn lẫn độc giả. Đôi khi hữu ích khi chỉ cần lắng nghe những mẫu đàm thoại không quan trọng giữa các nhân vật trong đầu bạn, mặc dù chúng không có trong câu truyện. Nếu bạn thấy dễ, hãy viết một bảng liệt kê, mang tên nhân vật, và viết tất cả thuộc tính bạn nghĩ ra được, từ chỗ đứng của họ trong ban nhạc cho đến màu sắc họ ưa thích. Viết tất cả ra.
5. Giới hạn chiều dài câu truyện. Một tiểu thuyết có thể diễn ra hàng triệu năm và bao gồm rất nhiều tình tiết phụ, rất nhiều địa điểm, và một đoàn quân các vai phụ. Những biến cố chính trong truyện ngắn chỉ nên xảy ra trong một thời điểm ngắn (những ngày hoặc ngay cả phút giây), và bạn thật không thể khai triển hiệu quả quá một cốt truyện, hai hoặc ba nhân vật chính, và một bối cảnh. Nếu câu truyện bạn rộng quá, nó phải là một tiểu thuyết.
6. Quyết định xem ai kể chuyện. Có ba điểm chính từ đó kể ra một câu truyện: ngôi thứ nhất (“Tôi”), ngôi thứ hai (“bạn”), và ngôi thứ ba (“anh ấy” hoặc “chị ấy”). Trong truyện ngôi thứ nhất, một nhân vật kể chuyện; trong truyện ngôi thứ hai thì độc giả là nhân vật trong truyện; và trong ngôi thứ ba, một người kể truyện là ngoại cuộc. (Truyện ngôi thứ hai rất hiếm được dùng.) Nhớ rằng những người kể truyện ngôi thứ nhất chỉ có thể kể những gì họ biết (tức là giới hạn vào những gì họ thấy trước hết hoặc được người khác kể lại), trong khi đó những người kể truyện ngôi thứ ba có thể biết mọi thứ và khai thác những suy nghĩ của mỗi nhân vật, hoặc bị giới hạn chỉ bởi điều có thể quan sát được.
7. Bắt đầu viết. Tùy vào thể nào bạn phát thảo cốt truyện và nhân vật, tiến trình viết thực ra chỉ đơn giản là chọn đúng từ. Tuy nhiên, nhìn chung, viết thật là gian khổ. Bạn có thể không biết các nhân vật và cốt truyện của bạn như là bạn nghĩ, nhưng điều này không quan trọng gì. Dàn bài không phải cứ giống như câu truyện, và thực ra, viết truyện là cách duy nhất để hoàn thành câu truyện.
8. Mở đầu sinh động. Trang đầu tiên---có người thì nói là câu đầu tiên---của bất kỳ bài viết nào cũng nên bắt lấy sự chú ý của độc giả và khiến họ muốn đọc nữa. Mở đầu nhanh gọn rất quan trọng trong truyện ngắn vì bạn không có nhiều chỗ để kể chuyện của bạn. Đừng la cà giới thiệu dài dòng về những nhân vật hoặc những diễn tả không quan trọng về bối cảnh: hãy vào ngay cốt truyện, và tiết lộ chi tiết về các nhân vật và bối cảnh từng mảnh một khi bạn tiếp tục kể.
9. Tiếp tục viết. Chắc chắn bạn phải đụng mô đất trên đường để hoàn thành câu truyện của bạn. Tuy thế, bạn phải khắc phục chúng. Giành riêng thời giờ viết mỗi từng ngày, và đặt mục đích thực hiện, chẳng hạn, một trang mỗi ngày. Cho dù bạn chấm dứt bằng cách vứt đi những gì bạn viết ngày đó, bạn cũng đã viết và suy nghĩ về câu truyện đó rồi, và điều này sẽ giúp bạn tiến tới về lâu về dài.
10. Hãy để câu truyện ‘tự viết.’ Khi bạn viết truyện của bạn, có lẽ bạn muốn thay đổi cốt truyện theo hướng khác so với bạn đã hoạch định, hoặc bạn có lẽ muốn thay đổi điểm chính hoặc vứt bỏ một nhân vật. Hãy lắng nghe các nhân vật của bạn nếu họ nói với bạn một điều gì đó khác đi, và đừng sợ viết nháp kế hoạch của bạn lại nếu bạn có thể làm câu truyện hay hơn khi bạn tiếp tục.
11. Xem lại và sửa chữa. Khi viết xong, hãy xem lại xuyên suốt câu truyện và sữa chữa những lỗi kỹ thuật, cũng như lỗi lý luận. Nói chung, phải biết chắc câu truyện trôi chảy và các nhân vật và vấn đề của họ được trình bày ra và giải quyết một cách thích đáng. Nếu bạn có thời giờ, quên đi câu truyện đã hoàn thành đó trong vòng vài ngày hoặc vài tuần trước khi sửa chữa. Tách bạn khỏi câu truyện như vậy sẽ giúp bạn thấy được nó rõ hơn khi bạn cầm nó lên lại.
12. Hỏi ý kiến. Gửi truyện đã được sửa chữa của bạn cho một số bạn thân hoặc họ hàng để họ xem lại, sửa chữa, và đưa ý kiến.
                                                                                                             Write-a-Short-Story
                                                                                                             Nguồn: wikihow.com




I. Cú pháp
Cú pháp là phép tắc dùng các tiếng để đặt câu văn cho chỉnh. Cú pháp là linh hồn của ngôn ngữ. Muốn viết văn cho đạt và muốn nói cho hay, ta phải sành về cú pháp. Muốn sành về cú pháp, ta phải hiểu thế nào là câu văn, các loại câu văn, mệnh đề, các loại mệnh đề, cùng cấu trúc của chúng. 
II. Câu văn 
Câu văn là sự kết hợp của nhiều tiếng để diễn tả một sự việc (sự tình) hay nhiều sự việc một cách đầy đủ, có ý nghĩa, và có liên quan với nhau.
Khi nói hết một câu, ta ngừng lại hay thôi không nói nữa. Khi viết một câu văn, ta viết hoa mẫu tự đầu của chữ ở đầu câu. Ở cuối mỗi câu, tùy từng trường hợp, ta dùng dấu chấm (.), dấu chấm hỏi (?), dấu chấm than (!), hay ba chấm (...). Trong một câu, ta còn dùng dấu phẩy (,) và chấm phẩy (;) để phân các chữ, các nhóm chữ, và các mệnh đề. Mỗi câu văn gồm có một hay nhiều mệnh đề. 
III. Mệnh đề 
Mệnh đề là lời diễn tả kết quả của một sự phán đoán. Nếu có đầy đủ ý nghĩa, một mệnh đề tự nó đã là một câu. Đó là câu đơn. Nếu trong một câu có nhiều mệnh đề thì câu đó là câu tổng hợp hay câu phức. 
Các mệnh đề được xếp thành ba loại: mệnh đề độc lập, mệnh đề chính, và mệnh đề phụ. Vậy, mệnh đề là một thành phần của một câu. Mỗi mệnh đề gồm có tối thiểu một chủ từ và một động từ, trừ những trường hợp tỉnh lược, nhất là trong câu hỏi và trả lời. 
Thí dụ:
1. Cô Hồng đi vắng. (Mệnh đề độc lập).
2. Quyển sách này là của tôi và quyển kia là của anh. (Hai mệnh đề độc lập).
3. Tại xe hỏng, tôi không lại thăm anh được. (Mệnh đề phụ và mệnh đề chính).
4. Dừng lại! (Chủ từ hiểu ngầm hay được tỉnh lược: Anh hay các anh dừng lại).
5. Anh Hải đến chưa? - Chưa. (Anh Hải chưa đến. Chủ từ Anh Hải và động từ đến được tỉnh lược trong câu trả lời Chưa.)
IV. Phân loại câu văn
1.      Theo cách cấu tạo câu, ta có hai loại câu văn: câu đơn và câu tổng hợp (câu phức). Câu đơn diễn tả một sự việc, câu tổng hợp (câu phức) diễn tả nhiều sự việc. Câu tổng hợp có từ hai mệnh đề trở lên: mệnh đề độc lập, mệnh đề chính, và mệnh đề phụ.
Thí dụ:
a. Câu Đơn chỉ có một mệnh đề: Tôi xin lỗi anh!
b. Câu Tổng Hợp (câu phức) có nhiều mệnh đề (m.đ.): Xin lỗi anh (m.đ. độc lập), tôi không đến dự phiên họp được (m.đ. độc lập). Vì hôm qua xe hỏng (m.đ. phụ), tôi không đến dự phiên họp được (m. đ. chính). Tôi xin lỗi anh (m.đ. độc lập), vì hôm qua xe hỏng (m.đ. phụ), tôi không đến dự phiên họp được (m.đ. chính). 

2.      Theo ngữ điệu của câu, tức là theo giọng khi ta nói câu đó, chúng ta có ba loại câu:
a. Câu nói theo giọng thường: Mẹ đã về chợ.
b. Câu nói theo giọng hỏi: Mẹ đã về chợ? (Dùng để hỏi lại xem có đúng không). c. Câu nói biểu lộ tình cảm: Mẹ đã về chợ! (Người con reo mừng khi thấy mẹ về chợ). Ngoài ra muốn nhấn mạnh vào chữ nào, ta nói chữ đó với giọng cao hơn trong câu nói theo giọng thường, chẳng hạn như ta nói: “Anh phải làm ngay việc đó.” hay “Anh phải làm ngay việc đó.” 

3.                             Theo cách nói xác định, phủ định, hay nghi vấn (hoài nghi), ta có ba loại câu: 
a. Câu Xác Định diễn tả sự việc có xảy ra: Cô ta ngâm thơ. Trong các câu xác định, ta còn dùng các trạng từ sau để tăng thêm ý xác định: có (Nhà tôi có ở nhà.), chính (Chính cô ta đã nói.), tự (Anh hãy tự trách mình.), phải (Cô ta phải đi.), chỉ (Chỉ có anh mới làm được việc ấy.), mới (Tôi mới thấy cô ta.), duy (Duy có anh mới xứng đáng chức vụ ấy.), toàn (Họ toàn là người tốt.), tinh (Họ ăn tinh những rau.), rặt (anh ấy nói rặt tiếng Bình Định.), thuần (Cô ta mặc thuần một màu đen.), những (Cô ta mua những mười cái áo dài.), v.v. 
b. Câu Phủ Định diễn tả sự việc không xảy ra: Cô ta không đi dự tiệc. Trong các câu phủ định, ta thường dùng các phủ định trạng từ như: không (Chúng nó không tới.), chẳng (đồng nghĩa với không nhưng có ý quả quyết hơn: Chúng nó chẳng làm được gì ra hồn.), chớ (Chớ thấy người sang bắt quàng làm ho.), đừng (Đừng nghe những gì bọn ấy nói, hãy nhìn những gì bọn ấy làm), chưa (Cái gì cũng chưa xong.), há (Anh ấy há phải con người vô ơn bạc nghĩa. Tôi một lòng vì nghĩa há vì danh lợi.), phi (Phi những người học rộng tài cao, không ai làm được việc đó.), bao giờ (Tôi có làm thế bao giờ.), đâu (Của đâu mà cho nó hoài. Tôi biết đâu việc đó.), v.v. 
Người ta còn dùng những tiếng phiếm chỉ đại danh từ ai, người nào, và cái gì, v.v. kèm với các phủ định trạng từ chẳng, không, cũng, cũng không, và chưa, v.v. để diễn tả ý phủ định một cách mạnh hơn: Chẳng ai ưa hắn. Không người nào lai vãng đến đây. Chưa cái gì hoàn tất cả. Người nào cũng không thích. Cái gì cũng tệ! 
Ngoài ra, người ta còn dùng các trạng từ như: nào, dễ, dám, quản, xiết, còn, kể, và chắc, v.v. để nhấn mạnh nghĩa phủ định của câu văn. Thí dụ: Nào tôi có làm thế bao giơ! Đã dễ gì nó làm được việc đó mà anh lo. Tôi đâu dám sai lời. Quản bao tháng đợi năm chờ (Kiều, câu 553). Khóc than khôn xiết sự tình (Kiều, câu 73). Còn chi là cái hồng nhan (Kiều, câu 3101). Kể chi những nỗi dọc đường (Kiều, câu 1527). Chắc gì nó làm xong việc ấy. 
c. Câu Nghi Vấn để hỏi hay để tỏ ý hoài nghi: Cô ta có đến không? Cuối câu nghi vấn bao giờ cũng phải có dấu hỏi (?) . Muốn đặt câu hỏi, người ta thường dùng các trạng từ nghi vấn, chứ không cần đảo ngược vị trí chủ từ và động từ như trong tiếng Anh tiếng Pháp.
Người ta thường dùng các trạng từ sau đây trong câu hỏi: không (Anh đi không?), có...không (Cô có đi không?), chưa (Anh đọc quyển sách này chưa?), đã...chưa (Anh đã đọc quyển sách này chưa?), à (Thật như thế à?), nhỉ, a (Da mồi tóc bạc ta già nhỉ? Aó tía đai vàng bác đấy a ?), ư (Thật thế ư?), tá (dùng trong văn chương để tự hỏi mình: Người xưa đâu tá?), và hử hay hở (Làm gì thế hử? Ngã như thế có đau không hở?). 
Trong các câu hỏi về người, ta dùng tiếng nghi vấn đại danh từ: ai (Ai đi với nó? Nó nói chuyện với ai vậy?). Người ta còn dùng tiếng nghi vấn chỉ định từ nào đặt sau các danh từ ông, bà, anh, chị, người v.v. để hỏi: Ông nào? Người nào chào anh vậy? Bà nào đứng đằng kia? Trong số các anh này, chị chọn anh nào? Chị nào tình nguyện? 
Trong các câu hỏi về sự vật, người ta dùng tiếng chỉ định từ gì, chi, nào,v.v. để hỏi: Cái này là cái gì? Anh hỏi cái chi? Anh đi đường nào? Trong hai việc, anh chọn việc nào? Ngoài ra, người ta còn dùng các trạng từ nghi vấn như: sao, làm sao, thế nào, tại làm sao, bao nhiêu, mấy, bao giờ, bao lâu, đâu, bao xa, v.v. để đặt câu hỏi: Anh nói sao? Làm sao anh ra nông nỗi này? Anh thấy cô ta thế nào? Tại làm sao anh không đi? Tất cả có bao nhiêu người đến dự? Em học lớp mấy? Bao giờ cô ta về? Anh đi bao lâu? Cô ở đâu đến? Từ nhà anh đến đó bao xa ? 
V. Thành phần căn bản của câu đơn và mệnh đề
Một câu đơn hay mệnh đề thường có hai phần căn bản: chủ từ và thuật từ. Thí dụ: 1.Tôi đi xe điện ngầm. 2. Con chó đen đang chạy ngoài sân. 3. Cám ơn cô. 4. Bao giờ anh đi Orlando? - Mai. 
Trong câu 1, chủ từ là Tôi và thuật từ là đi xe điện ngầm. Trong câu 2, chủ từ là Con chó đen và thuật từ là đang chạy ngoài sân. Trong câu 3, chủ từ được hiểu ngầm là Tôi và thuật từ là Cám ơn cô. Trong câu 4, ở câu trả lời Mai, chủ từ tôi và thuật từ đi Orlando được hiểu ngầm. Khi trả lời Mai, ta có ý nói: Mai tôi đi Orlando.
1.Chủ Từ: Chủ từ là một chữ hay một nhóm chữ trong câu. Chủ từ giữ vai trò làm chủ hành động hay tình huống được diễn tả trong câu đó. Phải có một chủ từ mới thành câu văn. Tuy nhiên, câu văn có thể có chủ từ tỉnh lược, tức là chủ từ được hiểu ngầm như được trình bày trong thí dụ 3 và 4 ở trên. Trong một nhóm chữ dùng làm chủ từ, có một hay nhiều tiếng chính làm chủ từ, các tiếng khác là tiếng phụ dùng để làm rõ nghĩa cho chủ từ. 
Trong thí dụ “Con chó đen đang chạy ngoài sân,” nhóm chữ Con chó đen là chủ từ của động từ đang chạy. Trong nhóm chữ này, chữ chó là tiếng chính làm chủ từ của câu. Chữ con, tiếng loại từ, làm rõ nghĩa cho chữ chó. Chữ đen, tiếng tính từ, bổ nghĩa cho chữ chó. Trong thí dụ “Bàn, ghế, và tủ trong nhà đều là của cô ta,” nhóm chữ “bàn, ghế, và tủ trong nhà” là chủ từ của câu. Trong nhóm chữ này, ba tiếng bàn, ghế, tủ là những tiếng chính dùng là chủ từ. Chữ và là liên từ; giới từ trong và danh từ nhà là những tiếng bổ nghĩa cho chủ từ “Bàn, ghế, và tủ.” 
2.Thuật Từ : Phần của câu ngay sau chủ từ được gọi là thuật từ. Phần thuật từ có thể rất đơn giản hay rất phức tạp. Phải có thuật từ mới thành một câu. Tuy nhiên, thuật từ có thể được hiểu ngầm hay tỉnh lược như trong thí dụ 4 ở trên. Tiếng chính trong phần thuật từ là động từ; những chữ khác có thể là trạng từ và túc từ của động từ cùng các bổ từ khác. Thuật từ dùng để thuật về chủ từ, tức là nói rõ chủ từ là gì, làm cái gì, làm sao, ở đâu, thế nào, v.v. Trong thí dụ “Con chó đen đang chạy ngoài sân,” nhóm chữ “đang chạy ngoài sân” là thuật từ của chủ từ “Con chó đen.” 
VI. Những lỗi thông thường về cú pháp 
Những lỗi điển hình về cú pháp gồm câu què, lỗi chấm câu, và lỗi dùng sai tiếng bổ nghĩa, v.v. 
Trong các thí dụ sau đây, để tránh sự đụng chạm cá nhân, người viết đã thay những tên nhân vật, tên các hội đoàn, tên thành phố, và tên tác phẩm,v.v. bằng từ ABC. Vì tính cách tế nhị, người viết cũng không nêu rõ xuất xứ của câu văn. Mục đích chính của phần này là nêu ra những câu sai về cú pháp cùng những câu đề nghị sửa mà thôi. Sau đây là các thí dụ điển hình về những câu sai cú pháp. Để các bạn đọc tiện theo dõi giữa câu sai và những câu đề nghị sửa, chúng tôi xin biên câu đề nghị sửa liền sau mỗi câu sai về cú pháp. 
1.    a. Câu sai (lỗi về dấu chấm câu, câu thiếu chủ từ): Sau khi đã gửi thơ đề ngày 1-12-1998 đến tất cả các vị cựu chủ tịch ABC, để tường trình về hiện trạng bế tắc của tôi, do phía bà ABC cố tình gây nên, với hy vọng sẽ đón nhân được cao kiến khai thông sự bế tắc này. 
b. Câu đề nghị sửa: Sau khi đã gửi thư đề ngày 1-12-1998 đến các vị cựu chủ tịch ABC để tường trình về hiện trạng bế tắc của tôi do bà ABC cố tình gây nên, tôi hy vọng sẽ đón nhận được cao kiến khai thông sự bế tắc này. 

2. a. Câu sai (lỗi chấm câu, lỗi dùng chữ hoa, câu què): Bà cũng không chịu tổ chức cuộc bầu cử thống nhất 2 ABC ở ngay nơi bà đang cư ngụ. Vì bà ta thừa biết, cuộc bầu cử ấy sẽ khiến con Hồ Ly Tinh phải hiện nguyên hình chồn cáo.
b. Câu đề nghị sửa: Bà ta cũng không chịu tổ chức cuộc bầu cử thống nhất 2 ABC ở ngay nơi bà đang cư ngụ vì bà ta thừa biết cuộc bầu cử này sẽ khiến con hồ ly tinh phải hiện nguyên hình chồn cáo. 
3. a. Câu sai (lỗi chấm câu, câu què): Trong lãnh vực giáo dục văn học, nghệ thuật, và báo chí, dù không có vấn đề chiếu trên chiếu dưới phân chia đẳng cấp như quân đội. Nhưng thiết tưởng ông phải biết thân phận mình, và vị trí đích thực của mình, mới đáng là người có văn hoá. 
b. Câu đề nghị sửa: Dù trong lãnh vực giáo dục, văn học, nghệ thuật, và báo chí không có vấn đề “chiếu trên chiếu dưới” để phân chia đẳng cấp như ở trong quân đội, tôi thiết tưởng ông phải biết thân phận mình và vị trí đích thực của mình thì mới đúng là người có văn hóa. 
4. a. Câu sai (câu què, lỗi chấm câu, lỗi dùng chữ): Vì tâm lý bọn tiểu nhân, bất tài, thường hay dùng lối chê dè, dè bỉu khơi khơi, với dã tâm ti tiện hạ người khác xuống, để tạo ảo tưởng mình hay hơn, tài giỏi hơn.
b. Câu đề nghị sửa: Với dã tâm ti tiện hạ người khác xuống để tạo ảo tưởng là mình hay hơn và tài giỏi hơn, bọn tiểu nhân bất tài thường có tâm lý dùng lối chê bai dè bỉu khơi khơi. 
5. a. Câu sai (câu què, chủ từ và tiếng bổ nghĩa không phù hợp, dùng chữ viết hoa không đúng cách, lỗi dấu châm): Để tưởng nhớ những người đã chiến đấu bảo vệ Hòa Bình cho Thế Giới và Tự Do cho nhân loại. Hàng năm, ngày ABC được tổ chức tại ABC vào mỗi tháng 8 dương lịch - nhân ngày khai trương ABC. 
b. Câu đề nghị sửa: Hàng năm, để tưởng nhớ những người đã hy sinh chiến đấu bảo vệ hòa bình cho thế giới và tự do cho nhân loại, cơ quan ABC có tổ chức ngày ABC tại ABC vào tháng 8 dương lịch nhân ngày khai trương ABC. 

6. a. Câu sai (câu què, câu cụt, câu bất thành cú): Một thách đố của người ABC di cư tị nạn BCA! Chứng minh và nói lên sức mạnh của sự đoàn kết. Con đường duy nhất để tiến tới mạnh mẽ và liên tục trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng của dân tộc ABC hiện nay. 
b. Câu đề nghị sửa: Một thách đố của người ABC di cư tỵ nạn BCA là làm sao phải chứng minh và nói lên sức mạnh của sự đoàn kết. Đó là con đường duy nhất để tiến tới một cách mạnh mẽ và liên tục trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng hiện nay của dân tộc ABC. 
7. a. Câu sai (chủ từ và tiếng bổ nghĩa không phù hợp): Để tiếp tục duy trì truyền thống văn hóa Việt Nam, Hội Xuân A với chủ đề B do Hội C cùng các hội đoàn bạn phối hợp tổ chức. 
b. Câu đề nghị sửa: Để tiếp tục duy trì truyền thống văn hóa Việt Nam, Hội C cùng các hội đoàn bạn phối hợp tổ chức Hội Xuân A với chủ đề B. 

8. a. Câu sai (chủ từ và tiếng bổ nghĩa không phù hợp, lỗi chấm câu): Chủ trương tạo không khí Tết truyền thống, chương trình gồm nhiều tiết mục phong phú, thích hợp cho mọi lứa tuổi, Hội Xuân hy vọng thu hút một lượng người đáng kể. 
b. Câu đề nghị sửa: Với chương trình gồm nhiều tiết mục phong phú đượm không khí Tết truyền thống và rất thích hợp cho mọi lứa tuổi, chúng tôi hy vọng Hội Xuân sẽ thu hút một số khán thính giả đáng kể. 
9. a. Câu sai (câu què): Để kỷ niệm một trong những ngày đáng ghi nhớ của Quân, Dân Việt Nam trước đây. Trân trọng kính mời Ông, Bà và gia đình đến tham dự buổi tiệc họp mặt nhân ngày ABC. 
b. Câu đề nghị sửa: Để kỷ niệm ngày ABC, một ngày đáng ghi nhớ của quân dân Việt Nam trước đây, chúng tôi sẽ tổ chức buổi tiệc họp mặt nhân ngày ABC này. Trân trọng kính mời ông bà cùng gia đình đến tham dự buổi tiệc họp này với chúng tôi. 
10. a. Câu sai (câu què): Để mừng ngày ABC và cũng để đánh dấu sự hình thành Đại-Đô-Thị ABC. Một cuộc ABC với sự tham-gia đông-đảo của nhiều đoàn thể người bản xứ, nhiều Hội-đoàn và tổ-chức các Cộng-đồng, cùng nhiều đoàn quân của các sắc dân hiện định cư tại ABC.- 
b. Câu đề nghị sửa: Để mừng ngày ABC và cũng để đánh dấu sự hình thành Đại Đô Thị ABC, tòa ABC sẽ tổ chức một cuộc ABC với sự tham gia đông đảo của nhiều đoàn thể người dân bản xứ cùng các hội đoàn, tổ chức cộng đồng, và nhiều đoàn quân của các sắc dân hiện định cư tại ABC. 
11. a. Câu sai (chủ từ và tiếng bổ nghĩa không phù hợp): Đang là bạn thân mà thay đổi lập trường, ABC quạt ngay trên mặt báo. 
b. Câu đề nghị sửa: Hễ thấy ai đang là bạn thân của mình mà thay đổi lập trường, ABC quạt ngay trên mặt báo. 
12. a. Câu sai (lỗi chấm câu, câu văn lủng củng, ý tứ lộn xộn): Thì giờ lúc nào cũng thấy thiếu, kể cả với những người quanh năm thất nghiệp! Huống chi ngày ngày phải đi làm, vật lộn với sinh kế, đầu óc thường xuyên căng thẳng, gạt bỏ hết mọi thứ để ngồi vào bàn biết quả thực là một việc rất khó khăn. Mấy ai đã có được kỷ luật sáng tác như ABC, sáng sáng ôm giấy bút ra công viên, quyết viết cho xong trường thiên ABC gần hai ngàn trang! Nhất là ông định cư tại AB, giữa cộng đồng người Việt quá sầm uất, lúc nào cũng dễ dàng lôi cuốn người ta ra khỏi thời khóa biểu thường nhật, cắt ngang dòng sáng tác của khá nhiều văn hữu. Tôi còn nhớ ngay từ 1982, tạp chí ABC của nhà thơ ABC xuất bản tại ABC, đã phải than lên rằng: “Bộ môn văn, con dao cùn trong tay những người cầm bút hải ngoại!” 
b. Câu đề nghị sửa: Thì giờ lúc nào người ta cũng thấy thiếu, ngay cả đối với những người quanh năm thất nghiệp huống chi đối với những người mà đầu óc thường xuyên căng thẳng vì ngày ngày họ phải đi làm và vật lộn với sinh kế thì việc gạt bỏ hết mọi thứ để ngồi vào bàn viết quả thực là một việc rất khó khăn! Mấy ai đã có được kỷ luật sáng tác như ABC, nhất là ông lại định cư tại ABC, nơi có cộng đồng người Việt quá sầm uất! Không khí sinh hoạt nơi đây lúc nào cũng dễ dàng lôi cuốn người ta ra khỏi thời khóa biểu thường nhật và cắt ngang dòng sáng tác của khá nhiều nhà văn. Thế mà sáng sáng ôm giấy bút ra công viên, ông đã viết xong cuốn tiểu thuyết trường thiên ABC dày gần hai ngàn trang! Tôi còn nhớ, ngay từ năm 1982, trên tạp chí ABC của nhà thơ ABC, xuất bản tại ABC, ông ta đã viết bài than rằng: “Bộ môn văn, con dao cùn trong tay những người cầm bút hải ngoại!” 
VII. Muốn viết văn, phải biết văn pháp và văn phạm.
Lời nói rõ ràng và đầy đủ ý nghĩa, nếu được viết ra đúng như thế, tự nó đã là một câu văn trong sáng và đúng văn pháp rồi. Cú pháp giúp ta viết văn đúng cách, rõ ràng, trong sáng, và đầy đủ ý nghĩa hơn. Bài văn trong sáng là bài có cú pháp đúng cách, ý tưởng phân minh, và bố cục rõ ràng. Những ý trong mỗi đoạn và toàn bài văn phải theo sát với đề tài và có liên quan chặt chẽ với nhau. Viết hết một đoạn, ta phải xuống hàng. Việc chấm câu đúng cách cũng làm cho câu văn và tác phẩm trong sáng, rõ ràng, và dễ hiểu.
Đã viết văn, ai cũng có thể mắc lỗi kể cả các nhà văn lão thành. Những nhà văn lão thành cho biết rằng sau khi viết xong một bài văn, mỗi lần đọc lại, ta lại thấy những lỗi chính tả và cú pháp khác nhau. Chính vì thế mà đã có những nhà văn sửa bản nháp của họ tới hàng chục lần mới ưng ý. Điều này cho ta thấy rằng cứ viết văn là có lỗi, không nhiều thì ít, rất hiếm có người viết một lần mà được như ý. Không có ngoại lệ. Muốn viết văn cho đúng cách ta phải viết nhiều và viết riết rồi quen. 

Khi ta đã để công nghiên cứu văn pháp cùng văn phạm và chịu khó viết văn, chắc chắn chúng ta sẽ viết văn đúng cách và câu văn của chúng ta sẽ trong sáng linh động hơn. Nếu có mắc lỗi, chúng ta sẽ chỉ mắc những lỗi nhẹ và mắc ít lỗi hơn.

*Ghi Chú:  Bài này được trích ra từ tác phẩm KIẾN VĂN , trang 215, của Khải Chính Phạm Kim Thư, xuất bản tải Canada năm 2001.
______________________________________________

MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget